
- Ông Truyết là một tiến sĩ về cấu trúc hóa-học hữu-cơ - tốt nghiệp tại trường đại học Pháp de-Besancon
- Giáo sư phụ tá – Khoa trưởng hóa học tại đại học Sàigòn.
- Giám đốc học vụ tại đại học Cao Đài - Tây Ninh
- Hợp tác nghiên cứu tại Đại học Y khoa Minnesota-Minneapolis
- Giám đốc phòng thí nghiệm, công ty Chemical Waste Management, Inc thành phố Kettleman, California.
Những chức vụ gần đây
- Giám đốc nhà máy Leachate Treatment Plant, BKK Corporation – West Covina – CA
- Nhân viên bảo trì và quản lý chất lượng tại Weck Environmental Labs – Industry City – CA
- Giám đốc kỹ thuật cho công ty phục vụ môi trường – Los Angeles – CA (Environment Services, Inc.)
Những công tác xã hội - Chủ Tịch ban chấp hành: Hội khoa học và kỹ thuật Việt-Mỹ (Vietnamese American Science & Technology Society – VAST)
- Đài Truyền Thanh Á Đông Tự Do: Nhà cố vấn trong chương trình tạp chí về Khoa học và Môi Sinh.
Toát Yếu
Sự hâm nóng toàn cầu
Các lý thuyết về sự hâm nóng toàn cầu phát sinh từ cuối thế kỷ 19 do những nhà khoa học Thụy Điển trong khi quan sát sự thay đổi nhiệt độ của không khí bị ô nhiễm để rồi từ đó kết luận rằng trái đất nóng dần do con người phóng thích các khí ô nhiễm vào không khí. Những lý thuyết nầy là nguyên nhân khởi đầu cho nhiều cuộc bàn cãi giữa các nhà khoa học. Họ đã tin rằng từ năm 1896, thán khí (CO2) thải vào không khí như phó sản của việc đốt than đá để tạo ra năng lượng là nguyên nhân chính gây ra “hiệu ứng nhà kính”. Theo ước tính, thán khí trong không khí đã tăng 30% từ năm 1750 đến nay.
Mãi đến năm 1949, sau khi điều tra hiện tượng tăng nhiệt độ trong không khí ở Âu Châu và Bắc Mỹ từ năm 1850 đến 1940 so với các nơi khác trên thế giới, các nhà nghiên cứu Anh đã đi đến kết luận là sự phát triển ở các quốc gia kỹ nghệ đã làm tăng lượng ô nhiễm thán khí trong không khí, do đó làm cho mặt đất ở hai vùng nầy nóng mau hơn so với các vùng chưa phát triển.
Đến năm 1958, các cuộc nghiên cứu ở Mauna Loa Observatory (Hawaii) đặt ở cao độ 3.345m mới chứng minh được khí CO2 là nguyên nhân chính yếu của sự gia tăng nhiệt độ nầy. Đến năm 1976, các chất khí methane, chlorofluorocarbon (CFC), nitrogen oxide (NOx) cũng được xác nhận là nguyên nhân của hiệu ứng nhà kính.
Từ năm 1979 đến 1983, nhiều báo cáo của Hàn Lâm Viện Quốc gia về Khoa học Hoa Kỳ đã chứng minh và cảnh báo rằng nơi nào có ô nhiễm không khí trầm trọng là nguy cơ có nhiệt độ không khí tăng càng lớn.
Năm 1990, 49 nhà bác học được giải Nobel đã ra thông cáo kêu gọi mọi quốc gia trên thế giới phải có biện pháp tức thời để hạn chế ô nhiễm không khí hầu bảo vệ quả địa cầu.
Các cuộc nghiên cứu mới nhất do hai khoa học gia Karl và Trenberth trên tạp chí Sciences số Tháng 12/2003 nói lên tính cách khẩn thiết của vấn đề nầy. Theo ước tính của hai ông thì từ 1990 đến 2100, nhiệt độ trên mặt địa cầu sẽ tăng từ 3,1 đến 8,9 oF (1,6 đến 4,2 oC). Nhiệt độ tăng nầy sẽ làm nóng chảy hai vùng băng đá Greenland và Antartica và có thể làm ngập lụt các lục địa. Nó sẽ làm thu hẹp diện tích sống của con người trên quả địa cầu. Hậu quả là:
- Trái đất sẽ chịu đựng những luồng khí nóng bất thường
- Hạn hán sẽ thường xuyên hơn và lan rộng hơn
- Mưa to, bão tố khó tiên đoán hơn
- Môi trường bị thay đổi
- Mực nước biển sẽ dâng cao khoảng 75cm đến năm 2100
Năng lượng mặt trời
Các lợi điểm của việc sử dụng năng lượng mặt trời:
- Không gây ô nhiễm không khí
- Không tạo ra hiệu ứng nhà kính
- Không tạo ra phế thải rắn và khí ô nhiễm như các nguồn năng lượng do than đá, khí đốt, xăng dầu, và năng lượng nguyên tử
Năng lượng mặt trời là một nguồn năng lượng tối ưu cho Việt Nam, đứng về phương diện địa dư và nhu cầu phát triển kinh tế. Năng lượng nầy sẽ là một nguồn khơi mào hứng thú góp phần vào việc:
- Hạn chế hiệu ứng nhà kính, và sự hâm nóng toàn cầu
- Giải quyết ô nhiễm môi trường do việc gia tăng dân số
- Bổ túc vào sự thiếu thốn năng lượng trong tương lai khi các nguồn dự trữ than đá, xăng dầu, và khí đốt của thế giới bị hao cạn
|