|
Lê Long là giảng sư trường đại học University of Houston. Ông là tác giả Tomorrow Vietnamese Forum( TVF) trên mạng lưới điện tử. Ông đã từng nghiên cứu về sự phát triển của Việt Nam, cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và sự tương quan giữa các cộng đồng người Việt tại hải ngoại và Việt Nam. Những bài viết của ông đã được đăng tải trên các báo Harvard Asia Quarterly, Migration Letters, The Washington Times, Houston Chronicle, và Orange County Register.
Toát Yếu
Có dấu hiệu cho thấy việc Việt Nam hòa nhập vào kinh tế toàn cầu đang làm gia tăng khả năng phát triển của một xã hội nhân bản, có người còn cho là độc lập, tại một trong những nước Cộng Sản (CS) cuối cùng trên thế giới.
Một số học giả cho rằng những thành quả của sự cải tổ kinh tế và phân quyền cho địa phương không những làm suy yếu đi cơ quan chính quyền CS Leninist trong nước, mà còn buộc cho các cơ quan mới thành lập hướng dẫn và chỉ đạo năng lực và lòng phấn khởi mới hình thành của đông đảo quần chúng. Thật vậy, việc "thị trường hóa" đã làm suy thoái các cơ quan CS trong việc kiểm soát chính trị và xã hội - như hệ thống đăng ký hộ khẩu, guồng máy công nhân biên chế, mạng lưới công an địa phương và các ban ngành phụ thuộc được lập ra để giữ dân chúng trong những vòng kềm tỏa của chính quyền. Hơn nữa, sự phân quyền cho địa phương còn phát sinh ra nhiều lực lượng năng động — một nền văn hóa quần chúng, một cách biệt giữa niềm tin cá nhân và chủ nghĩa CS, một số các tổ chức nhân dân và chuyên nghiệp tìm cách tách rời khỏi nhà nước — có thể có tiềm năng làm giảm quyền kiểm soát xã hội của nhà nước, tạo nền móng cho việc xây dựng các hình thái dân chủ.
Thế nhưng, phương cách cải tổ kinh tế của Đảng CSVN đã không nhằm sinh ra những điều ngoại ứng này. Thay vào đó, những điều này xảy ra chỉ vì cải tổ kinh tế đã được thi hành một cách nhất thời, tự phát. Để phản ứng lại, vài năm qua đảng CS đã đặt ra một số chính sách và biện pháp mới để điều khiển một xã hội nhân dân trong đó tự do về cá nhân, kinh tế, văn hóa, liên quốc gia và chính trị, khi được phát triển đều phải nằm dưới quyền kiểm soát của nhà nước. Các biện pháp mới này gồm có việc bắt buộc phải có thẻ căn cước hay sổ thông hành để sử dụng Internet và buộc các chủ quán Internet phải ghi lại các trang web khách hàng đã mở xem; đòi hỏi tất cả các sứ quán và công ty ngoại quốc phải trình các tài liệu, hồ sơ, báo cáo của họ để phê chuẩn, và bắt buộc các tổ chức tôn giáo và quần chúng và các người lãnh đạo phải đăng ký xin phép trước khi được sinh hoạt.
Nhà nước Việt Nam muốn cho thấy rằng một chế độ chuyên chế vẫn có thể thực hiện rất tốt nhiều hoạt động có quần chúng tham gia ở cấp địa phương mà vẫn không làm mất ý thức hệ hoặc quyền lực. Kết quả, qua bằng chứng thực tiễn, gợi ý rằng một xã hội công dân và những tố chất thực thi xã hội ấy ở Việt Nam đều không nhất thiết sẽ mang lại cơ cấu dân chủ. Một nghiên cứu cho thấy những thành phần hiếu động nhất trong xã hội công dân lại ít được xã hội tin tưởng nhất. Đồng thời, những mối liên hệ bi quan nhất giữa sự hoạt động và sự tin tưởng lại là những người thuộc các nhóm hoạt động công ích; ngay cả những tổ chức giáo dục và văn hóa ít lệ thuộc vào nhà nước cũng hơi kém tin tưởng lẫn nhau. Thêm nữa, ở Việt Nam lòng tin cá nhân rất khó đoán. Nghiên cứu này còn cho thấy những người mà nói rằng họ phải cảnh giác những người xung quanh lại chính là những người thích tham gia chính trị. Do đó, sự hình thành một xã hội công dân ở Việt Nam không có theo một phương hướng có thể dự đoán được. Nhưng nếu chúng ta phân tích một xã hội công dân trong khung cảnh của chế độ CS, những tự do về cá nhân, kinh tế, văn hóa, liên quốc gia và chính trị có phát triển, tuy chưa độc lập khỏi vòng kềm chế của nhà nước, nhưng đã cho thấy đó là sự hình thành một nước Việt Nam CS hiện đại chứ không phải nền dân chủ thực sự như đã thấy ở các nước khác trong vùng.
Đây là một vài diễn biến trong việc hình thành một xã hội công dân của Việt Nam CS mà chúng tôi sẽ thảo luận thêm trong phần trình bày. Sự so sánh giữa xã hội công dân của Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác cũng sẽ được tính gồm trong phần này.
|